Hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản
Nhật Bản có nền công nghiệp và dịch vụ phát triển, nhưng họ vẫn chú trọng vào phát triển nông nghiệp, phần lớn người nông dân Nh ật Bản đều tham gia hợp tác xã nông nghiệp. Hiện nay, nông nghiệp Nhật Bản chiểm khoảng 1% GDP của cả nước, tổng số hộ làm nông nghiệp khoảng 3 triệu, chiếm 6,4% trên tổng số gần 50 triệu hộ gia đình của Nhật Bản.
Dân số trong sản xuất nông nghiệp là gần 10 triệu người, chiếm khoảng 7,8% dân số của cả nước. Hợp tác xã ở Nhật Bản được hình thành từ năm 1843 nhằm phục vụ các hoạt động tín dụng của những người nông dân, khi đó chưa có tổ chức hình mẫu về hợp tác xã nông nghiệp. Luật hợp tác xã Nhật Bản đầu tiên ra đời vào 1900 nh ằm quy định cho 5 loại hình hợp tác xã hoạt động là hợp tác xã tín dụng, tiếp thị, mua bán, sản xuất và tiêu dùng. Đến năm 1947 Luật hợp tác xã nông nghiệp ra đời.Về mặt tổ chức hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản chia làm 3 cấp. Ở cấp trung ương là Liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản (JA) bao gồm: Liên hiệp HTX nông nghiệp quốc gia Nhật Bản (ZEN-NOH), Liên đoàn bảo hiểm hợp tác xã nông nghiệp quốc gia (Zenkyoren), Tổng công ty du lịch Nokyo (N Tour), ngoài ra còn có Liên đoàn xuất bản và thông tin hợp tác xã nông nghiệp quốc gia, hiệp hội IE-NOHIKARI về các hoạt động xuất bản, giáo dục và văn hoá. Cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương có Liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp và Liên đoàn hợp tác xã địa phương (Prefecture level) hoặc văn phòng của các Liên đoàn Quốc gia. Ở cấp thành phố, làng thì có hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng cơ sở và hợp tác xã chuyên ngành cơ sở (hiện cả nước Nhật Bản có khoảng gần 800 HTX với gần 9,0 triệu xã viện bao gồm cả xã viên thường xuyên và xã viên kết hợp). Ngoài ra, trong HTX nông nghiệp còn có Hội phụ nữ (nâng cao đời sống) và Hội thanh niên (khuyến khích thanh niên tham gia vào HTX nông nghiệp).
Trong mỗi hợp tác xã của Nhật bản đều có hai loại hình xã viên. Đó là xã viên thường xuyên và xã viên liên kết. Xã viên thường xuyên là những hộ nông dân, hộ gia đình hoặc doanh nghiệp trong khu vực mà hoạt động của họ gắn chặt với các hoạt động sản xuất nông nghiệp của địa phương. Xã viên liên kết là những người, hộ gia đình hoặc tổ chức, doanh nghiệp không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nhưng có những hoạt động liên quan đến lĩnh vực hoạt động nông nghiệp của hợp tác xã, tán thành điều lệ của hợp tác xã và có đơn xin vào hợp tác xã. Các xã viên liên kết có mọi quyền lợi như xã viên thường xuyên, trừ quyền bầu cử và ứng cử vào Ban chủ nhiệm và Ban quản trị. Trước đây, xã viên liên kết thường là những cư dân trong khu vực của hợp tác xã, nhưng ngày nay thì khoảng cách địa lý không còn có ý nghĩa nữa. Một người, hộ gia đình, doanh nghiệp có thể là thành viên liên kết của một hoặc nhiều hợp tác xã nông nghiệp khác nhau. Chính điều này tạo nên sức mạnh của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản hiện nay. Bởi lẽ mỗi thành viên liên kết đồng thời cũng là một khách hàng của hợp tác xã nên họ đóng vai trò quan trọng cả trong các dịch vụ đầu vào lẫn dịch vụ đầu ra của các hợp tác xã. Tỷ lệ giữa xã viên thường xuyên và xã viên liên kết dao động tùy theo từng địa phương, theo từng thời điểm, nhưng tính chung cho cả nước tỷ lệ này dao động trong khoảng 55,0% và 45,0%. Khi mới bắt đầu hình thành, hợp tác xã nông nghiệp ở Nhật Bản đa phần là loại hình hợp tác xã chuyên ngành, mỗi hợp tác xã thực hiện một loại sản phẩm hoặc dịch vụ chuyên biệt. Tuy nhiên, theo thời gian, số lượng các hợp tác xã nông nghiệp chuyên ngành ngày càng giảm dần, nhường chỗ cho các hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng. Hiện nay phần lớn các hợp tác xã nông nghiệp ở Nhật Bản đều thực hiện các dịch vụ đầu vào, đầu ra của sản xuất nông nghiệp (kể cả các dịch vụ tín dụng), đồng thời cũng đảm nhiệm luôn nhiều dịch vụ và hoạt động khác ở khu vực nông thôn.
Các hoạt động của Liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản được quy định bởi Luật hợp tác xã nông nghiệp và nhiều Luật chuyên ngành. Luật quy định các hoạt động về Đại hội xã viên, viên chức, lao động, nguyên tắc của JA, hướng dẫn và giám sát của chính phủ.Chức năng của Liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản là cung cấp các chương trình đào tạo để gia tăng việc sử dụng công nghệ trong nông nghiệp, hợp tác nhằm nâng cao mức sống và mở rộng các hoạt động văn hóa; phát triển và mở rộng diện tích đất nông nghiệp, chú trọng công tác thủy lợi và hướng dẫn thành lập trang trại, vận động các thành viên liên kết đất đai làm trang trại; nghiên cứu thị trường, bảo quản và vận chuyển các sản phẩm nông nghiệp; cung cấp vật tư cho sản xuất nông nghiệp và các hàng hóa thiết yếu phục vụ nông dân; thành lập và quản lý quỹ phục vụ sản xuất nông nghiệp; cung cấp các dịch vụ bảo hiểm; sản xuất phân bón; chế biến các sản phẩm nông nghiệp; cung cấp phúc lợi công cộng; thành lập bệnh viện phục vụ cho nông dân; các hoạt động nhằm nâng cao quyền công dân. Dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp Đối với dịch vụ cung ứng vật tư cho sản xuất nông nghiệp, thì hệ thống hợp tác xã nông nghi ệp Nhật Bản đứng đầu là Liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp quốc gia Nhật Bản (ZEN-NOH), đã đảm đương 55% thị phần của 15 loại phân bón chính của cả nước. Đối với các loại hoá chất nông nghiệp, ZEN-NOH chiếm 37% thị phần. Ngoài ra đối với thức ăn tổng hợp ZEN-NOH cũng chiếm 30% thị phần phân phối. Việc phân phối, cung cấp dịch vụ sản xuất nông nghiệp cho xã viên được thực hiện theo hệ thống xuyên suốt từ ZEN-NOH đến Liên đoàn kinh tế và hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng cơ sở. Ngoài ra, hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản còn cung cấp các nhu yếu phẩm cho xã viên với giá cả hợp lý và chất lượng cao. Hệ thống hợp tác xã có các trung tâm mua sắm, siêu thị nhỏ, cây xăng, cửa hàng kinh doanh…
Dịch vụ tiếp thị và tiêu thụ nông sản
Hệ thống hợp tác xã nông nghiệp của Nhật Bản được xem là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng nhằm mục tiêu đưa nông sản từ người sản xuất đến người tiêu dùng với chất lượng, giá cả, và thời gian nhanh nhất. Thông qua hệ thống này, hợp tác xã nông nghiệp còn có thể điều chỉnh giá cả theo mùa, tránh trung gian ép giá, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm, cân đối được cung sản xuất và cầu tiêu dùng. Khâu tiếp thị và phân phối hàng nông sản thông qua hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản được thực hiện qua các khâu (i) phối hợp cùng vận chuyển, (ii) phối hợp lựa chọn sản phẩm, (iii) phối hợp tiêu thụ và (iv) phối hợp điều chỉnh cung cầu để ổn định giá cả. Hiện nay, hệ thống hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản đã xây dựng các kho lạnh nhằm bảo quản sản phẩm tại các trung tâm chợ đầu mối, các trung tâm đóng gói phân loại sản phẩm, hệ thống phân phối bán buôn (chợ đầu mối bán đấu giá hàng nông sản) và bán lẻ (siêu thị bán lẻ hợp tác xã)… Hình thức thanh toán trong quá trình giao dịch được hợp tác xã áp dụng cho nông dân theo (i) Uỷ thác vô điều kiện để người nông dân có thể gửi các sản phẩm để bán mà không có yêu cầu về giá, thời gian bán và nơi bán sản phẩm. (ii) Phí dịch vụ trên thực tế giúp người nông dân tiêu thụ sản phẩm nhưng họ phải trả cho tiền phí dịch vụ để chi trả các chi phí giao dịch và chi phí vận chuyển các sản phẩm và (iii) Thanh toán chung giúp người nông dân chuyên chở và bán sản phẩm để có được giá cả ổn định. Với cách làm này, lợi thế kinh tế của qui mô từ việc phân bổ và tiếp thị với số lượng lớn sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn cho người nông dân. Thị phần bao tiêu sản phẩm nông sản của xã viên thông qua hệ thống như gạo chiếm 90%, rau quả chiếm 48%, ngoài ra hợp tác xã còn bao tiêu các sản phẩm từ chăn nuôi. Nhằm trợ giúp cho việc tiêu thụ nông sản cho xã viên của các hợp tác xã nông nghiệp tại các chợ bán buôn trong cả nước, chính phủ Nhật Bản đã ban hành luật Bán buôn. Theo luật này các chợ đầu mối bán buôn trên phạm vi cả nước đều được hình thành và hoạt động bởi các công ty tư nhân. Các chợ này sẽ trả một khoản hoa hồng (commission) nhất định cho người bán buôn các loại hàng hóa dễ bị thối hỏng (rau củ, trái cây, hoa, nông sản, thủy sản,…) khi họ tham gia lưu thông các loại hàng hóa này đến người tiêu dùng nhằm ổn định giá cả. Tỷ lệ hoa hồng (tính theo % tiền lãi bán hàng) của một số mặt hàng được quy định như sau: Rau các loại: 8,5%, quả các loại: 7,0%, thủy sản: 5,5%, thịt: 3,5%, hoa tươi các loại: 9,5%,… Chính vì vậy, thị phần bán buôn của các loại nông sản hàng hóa của hợp tác xã nông nghiệp tại Nhật Bản là khá cao (rau các loại: 80,3%, quả các loại: 57,2%, thủy sản 68,6%, thịt bò: 22,5%, thịt lợn: 12,8%, hoa các loại: 83,7%,…).
Hoạt động chế biến nông sản
Hoạt động chế biến và tiêu thụ nông sản của hợp tác xã nông nghiệp nhằm tạo giá trị gia tăng cho các sản phẩm nông nghiệp và để giá trị đó lại khu vực nông thôn; phát triển thực phẩm mới để tăng nhu cầu sử dụng sản phẩm chế biến; duy trì sự cân đối cung cầu thông qua việc phân chia thị trường và tích trữ và phần quan trọng là tạo thêm việc làm cho khu vực nông thôn.
Hoạt động chế biến nông sản được thực hiện ở hợp tác xã Nhật Bản với hai mục đích là chế biến các sản phẩm để bán và tiêu dùng của gia đình. Hiện nay, các hợp tác xã nông nghiệp thực hiện chế biến theo ba loại: (i) chế biến và tiêu thụ nông sản, (ii) kết hợp sử dụng tập thể các phương tiện chế biến, và (iii) mua hàng và chế biến.
Trong hệ thống hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản đã hình thành các cơ sở chế biến hàng nông sản theo kỹ thuật chế biến sản phẩm cổ truyền. Mô hình “mỗi làng một sản phẩm” đã được hình thành và phát triển từ cách suy nghĩ này. Bên cạnh việc duy trì và phát triển các mặt hàng truyền thống, một cách làm khác đã mang lại thành công cho nhiều hợp tác xã chế biến ở Nhật Bản là phát triển mặt hàng mới, có giá trị gia tăng và tính cạnh tranh cao.
Hoạt động tín dụng
Nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã tín dụng nông nghiệp là hoạt động tương hỗ. Hợp tác xã nông nghiệp huy động vốn từ xã viên có tiền nhàn rỗi cho xã viên có nhu cầu vay để sản xuất. Hiện nay, nguồn huy động vốn đã tăng quá nhu cầu cho vay và số vốn dôi dư này được chuyển cho Ngân hàng nông, lâm, ngư nghiệp trung ương để phục vụ cho các ngành khác. Bên cạnh đó, hợp tác xã còn là nơi tiếp nhận vốn cho vay và hỗ trợ lãi suất từ chính phủ nhằm đảm bảo cung cấp nguồn vốn dài hạn với lãi suất thấp cho xã viên sản xuất nông nghiệp. Tổ chức tín dụng hợp tác xã nông nghiệp còn tiến hành nhiều hoạt động như chiết khấu hoá đơn, giao dịch trao đổi trong nước, bảo lãnh pháp lý, giao dịch ngoại hối.
Dịch vụ hướng dẫn nhà nông, hỗ trợ đào tạo (chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong HTX cho hộ xã viên nông dân)
Việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản được tiến hành bởi hệ thống hướng dẫn nhà nông (farm guidance), với đội ngũ cố vấn nhà nông (farm advior), là người hướng dẫn trực tiếp người dân áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như giống mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, quy trình chăm bón, giảm chí phí sản xuất bằng việc khuyến khích người dân tham gia sử dụng các cơ sở vật chất, trang thi ết bị kỹ thuật sản xuất nông nghiệp mới, vật tư đầu vào và thị trường đầu ra. Đây cũng là kênh kết nối giữa hệ thống khuyến nông quốc gia với nông dân. Mối quan hệ được thực hiện 2 chiều, thông tin đề xuất, kiến nghị từ người dân đến cơ quan khuyến nông, hợp tác xã nông nghiệp, chính phủ và ngược lại là chính sách, hướng dẫn, hỗ trợ… cho người dân. Hiện nay toàn hệ thống hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản có 14.380 cố vấn nhà nông làm việc trên khắp cả nước, họ hợp tác chặt chẽ với tác tổ chức hành chính, cán bộ khuyến nông, các trạm nghiên cứu, trạm vệ sinh dịch tễ, bác sỹ thú y và các tổ chức khác.
Dịch vụ bảo hiểm và an sinh xã hội
Hợp tác xã nông nghiệp ngoài các hoạt động liên quan đến sản xuất nông nghiệp còn tham gia vào rất nhiều những dịch vụ bảo hiểm và an sinh xã hội trong cộng đồng cư dân nông thôn địa phương. Đó là những loại dịch vụ bảo hiểm khác nhau như bảo hiểm cuộc sống, bảo hiểm lương hưu hay bảo hiểm rủi ro trong cuộc sống như bị cháy, gặp bão, lụt, động đất,… Ngoài ra hợp tác xã nông nghiệp còn tham gia vào dịch vụ khác như dịch vụ phúc lợi cho người già, dịch vụ cưới, tang,… Do tham gia rất sâu rộng vào các dịch vụ này nên hợp tác xã nông nghiệp ở nhiều nơi còn là trung tâm văn hóa, trung tâm sinh hoạt cộng đồng của cư dân địa phương.
Hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc
Từ khi thành lập vào năm 1961, Liên đoàn quốc gia hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc (NACF) đã tạo ra mạng lưới hợp tác xã từ trung ương đến cơ sở. Cho đến nay, hệ thống hợp tác xã ở Hàn Quốc đã phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng lên của nông dân về hỗ trợ dịch vụ, làm chủ toàn bộ thị trường và kinh tế nông thôn, từng bước tiến vào các đô thị, tiến tới hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Hiện tại, Liên đoàn quốc gia hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc, với gần 1.400 hợp tác xã thành viên, hoạt động rất đa dạng, bao gồm từ tiếp thị sản phẩm, chế biến nông sản, cung cấp vật tư và hàng tiêu dùng, tín dụng và ngân hàng, bảo hiểm, kho tàng, vận tải, khuyến nông, xuất bản và các dịch vụ hỗ trợ cho 5 triệu nông dân và cộng đồng nông thôn trong cả nước. Liên đoàn quốc gia hợp tác xã nông nghiệp hiện đang nắm giữ 40% thị phẩn nông sản trong nước và là một ngân hàng có số tiền gửi lớn nhất Hàn Quốc. Nhằm mở rộng thị trường nông sản, NACF quản lý một mạng lưới dịch vụ vận chuyển nông sản từ cửa nông trại đến người tiêu dùng, giúp người nông dân sản xuất theo yêu cầu của thị trường, giảm tối thiểu chi phí lưu thông, hao hụt, thất thoát. Liên đoàn quốc gia hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc cũng điều hành một hệ thống doanh nghiệp kinh doanh nông sản lớn nhất và cạnh tranh mạnh nhất ở đất nước này. Liên đoàn quốc gia hợp tác xã nông nghiệp là nơi chịu trách nhiệm cung cấp các vật tư nông nghiệp bảo đảm cho nông dân có đủ vật tư thiết yếu, đúng thời gian, giá rẻ, chất lượng. Trong khâu chế biến, Liên đoàn quốc gia hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc sở hữu một hệ thống hạ tầng và thiết bị hiện đại để chế biến và qua đó làm tăng thêm giá trị cho hàng nông sản. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, NACF điều hành cả hệ thống ngân hàng nông nghiệp và các quỹ tín dụng của hợp tác xã, cung cấp nhiều loại dịch vụ: giao dịch ngân hàng, dịch vụ thẻ tín dụng, tín dụng cho vay, đầu tư, bảo hiểm, giao dịch quốc tế… Hệ thống bảo hiểm của NACF chiếm lĩnh toàn bộ thị trường nông thôn.
Theo Trần Phú Vinh (Mekongco.op)
Tin cùng danh mục
Hội nghị “Phát triển giống vịt Biển phục vụ chăn nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu tại Nam Bộ ”
Ngày 08 tháng 11 năm 2017 tại Trung tâm phục vụ Hội nghị tỉnh Long An, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi Gia cầm VIGOVA- Phân Viện Chăn nuôi ...
03:45 06/05/2026Hiệu quả từ các giống bò thịt chất lượng cao
Trong những năm qua, tỉnh Bình Định đã triển khai các mô hình chăn nuôi giống bò thịt chất lượng cao. Dù ban đầu người dân còn e ngại vì giống bò mới ...
03:45 06/05/2026Trình diễn mô hình Canh tác lúa lý tưởng
Ngày 23/10/2017, Tập đoàn Mỹ Lan tiến hành trình diễn mô hình Canh tác lúa lý tưởng bằng cách kết hợp máy cấy ba chức năng của Công ty Yanmar Việt Nam ...
03:45 06/05/2026Chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đã và đang tác động đến nhiều lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu, kích thích các lĩnh vực ...
03:45 06/05/2026Sa Đéc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định công nhận thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2016. Đây là đơn vị ...
03:45 06/05/2026Tin xem nhiều
Nông dân tìm đầu ra cho nông sản thông qua mạng xã hội
Nông dân tìm đầu ra cho nông sản thông qua mạng xã hội
Giống lúa BC15 kháng đạo ôn sẽ có mặt từ vụ Đông Xuân 2019-2020
Công ty cổ phần Tập đoàn ThaiBinh Seed cho biết, giống lúa BC15 có gen ...
Tập huấn “ương cá tra hai giai đoạn gắn với liên kết tiêu thụ”
Tập huấn “ương cá tra hai giai đoạn gắn với liên kết tiêu thụ”
Tam Nông tích cực mở rộng lúa sinh thái cho môi trường
Tam Nông tích cực mở rộng lúa sinh thái cho môi trường
Đào tạo, tập huấn sản xuất cây ăn trái, …. theo các tiêu chuẩn an toàn
Đào tạo, tập huấn sản xuất cây ăn trái, …. theo các tiêu chuẩn an toàn