Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản đợt 8, ngày 16 – 31/5/2020
Ngày đăng: 02/06/2020

Chất lượng nguồn nước cấp tại các tuyến sông, kênh cấp trên địa bàn Tỉnh phần lớn có các chỉ tiêu pH, độ kiềm, H2S, NH4+, TSS đều nằm trong mức cho phép của quy chuẩn. Cảnh báo đối với các tuyến kênh trên địa bàn huyện, thị, thành:

- Phần lớn huyện, thị, thành đều có chỉ tiêu Oxy thấp hơn giới hạn cho phép, từ 2,5 – 3,5 mg/L, và cao hơn so với đợt quan trắc trước.

- Tất cả các điểm quan trắc đều có chỉ số độ kiềm ở mức cho phép (54 – 89mg/L) so với chỉ số tối thiểu yêu cầu độ kiềm thích hợp (50 – 150 mg/L).

- Kênh Sa Rài (Tân Hồng); Sông Sở Thượng - Tân Hội và Kênh Ba Ánh (Tx.Hồng Ngự) , Sông Tiền (H. Cao Lãnh); Kênh Kháng Chiến và Kênh Tân Công Sính 1 (Tam Nông) và Sông Tiền – Định Hòa (Lai Vung) có chỉ số H2S cao hơn (0,052 – 0.097mg/L) so ngưỡng giới hạn và chênh lệch cao hơn so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu NO2- ở phần lớn các điểm quan trắc đều có chỉ số đo cao hơn so với giới hạn cho phép (0,052 – 0,267mg/L), tập trung ở các địa phương: Thanh Bình, Tx.Hồng Ngự, H.Hồng Ngự, Tam Nông, Châu Thành và chênh lệch giảm so với đợt quan trắc trước.

- Các điểm lấy mẫu ở Thanh Bình, Tam Nông, Tx.Hồng Ngự, H.Hồng Ngự, Tân Hồng, Châu Thành có chỉ số đo NH4+ cao hơn so với giới hạn cho phép (0,36 – 0,78 mg/L) và chênh lệch thấp hơn so với đợt quan trắc trước. Cao nhất ở Vàm Cái Sơn (Lai Vung), Sông Tiền (H.Cao Lãnh), Kênh Tân Công Sính 1 (Tam Nông) và Kênh Trung ương (Tân Hồng).

- Chỉ tiêu COD ở hầu hết các điểm quan trắc đều có chỉ số đo vượt ngưỡng cho phép (13 – 96ml/L) và chênh lệch cao hơn so với đợt quan trắc trước. Các điểm có chỉ số đo cao tập trung ở các địa phương Tam Nông, H. Hồng Ngự, Tx. Hồng Ngự, Châu Thành, Tháp Mười, Lấp Vò.  

- Chỉ tiêu TSS ở kênh Sa Rài (Tân Hồng); sông Tiền (TX. Hồng Ngự); Thanh Bình; sông Hậu (xã Định Hòa, huyện Lai Vung); sông Tiền (xã An Hiệp, huyện Châu Thành) có chỉ số cao hơn so với giới hạn cho phép  (24 – 93 mg/L) và chênh lệch giảm so với đợt quan trắc trước.

- Độ mặn ở Sông Tiền và Sông Hậu dao động từ 0,13 – 0,19, với độ mặn này không gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của động vật thủy sản nước ngọt.

- Độ mặn ở các Kênh cấp nội đồng huyện Tam Nông dao động 0,17 0,91‰. Riêng kênh Ba Răng vượt giới hạn nước ngọt dao động 0,45 – 0,81 ‰, chênh lệch giảm so với đợt quan trắc trước.

-  Vi khuẩn gây bệnh: Mầm bệnh gây bệnh xuất huyết (Aeromonas
hydrophila)
xuất hiện ở hầu hết các điểm quan trắc của vùng sản xuất giống và nuôi cá tra tập trung trên địa bàn Tỉnh: Tân Thuận Đông, Kênh Tân Công Sính 1, Tân An- An Nhơn, Sông Sở Thượng, Sông Tiền - Tân Hòa , Sông Tiền - Tân Thuận Tây, Sông Vàm Cái Sơn, Sông Sa Đéc, Sông Tiền - Tân Mỹ (Lấp Vò). Riêng mầm bệnh gây bệnh mủ gan (Edwardsiella ictaluri ) xuất hiện tại điểm thu mẫu Sông Tiền - Tân Hòa (Thanh Bình).

* Khuyến cáo:

Thời điểm lấy mẫu, thời tiết đang vào mùa khô hạn cao điểm, nhiệt độ nước mặt tăng cao gây bất lợi lớn cho sự  phát triển thủy sản nuôi. Để hạn chế sự ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và bên trong ao nuôi, phòng bệnh cho các thủy sản nuôi, đề nghị các cơ quan địa phương liên quan cần khuyến cáo người nuôi thủy sản:

- Cần chú ý việc thay nước, thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường nước ao, tình trạng sức khỏe, tốc độ sinh trưởng của thủy sản nuôi. Nên thả nuôi với mật độ thích hợp, cho ăn hợp lý, định kỳ bổ sung men tiêu hóa, vitamin, khoáng chất,... nhất là vitamin C và Beta glucan vào khẩu phần ăn hằng ngày để tăng sức đề kháng.

   - Đối với vùng nuôi tôm tập trung cần thường xuyên kiểm tra độ kiềm và kết hợp bón vôi hay Dolomite để giữ môi trường nước nuôi ổn định và thuận lợi cho tôm phát triển tốt.

- Riêng các vùng nuôi thủy sản trên tuyến kênh Ba Răng có độ mặn vượt so với giới hạn nước ngọt (0,45 – 0,81‰). Để tránh ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản, các cơ sở nuôi trồng thủy sản khu vực này cần lưu ý lấy nước vào lúc triều cường.

   - Đối với những khu vực nuôi lồng/bè tập trung cần tăng cường thường xuyên kiểm tra, vệ sinh lồng/bè, bố trí lồng/bè có khoảng cách phù hợp để tạo dòng chảy thông thoáng nhằm hạn chế cá chết do thiếu oxy cục bộ. Sử dụng vôi, muối treo đầu bè hoặc khu vực cho ăn để khử trùng và phòng bệnh cho cá. Đồng thời thực hiện tốt QCVN 02-22:2015/BNNPTNT.

            - Các vùng nuôi/cơ sở nuôi cá tra thương phẩm xuất khẩu cần thực hiện QCVN 02-20:2014/BNNPTNT, Quyết định 07/2019/QĐ-UBND ngày 20/3/2019 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp v/v ban hành quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp./.

MV-VPS

Tham chiếu:

- QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A1: pH (6-8,5), NO2- (≤ 0,05 mg/L), NH4+(≤ 0,3 mg/L), COD (≤ 10 mg/L), TSS (≤ 20 mg/L), PO43- (≤ 0,1 mg/L). 

- QCVN 02-22:2015/BNNPTNT: Oxy (≥ 4 mg/L).

- QCVN 02-20:2014/BNNPTNT: H2S (≤ 0,05 mg/L).       

Tin cùng danh mục

​​​​​​​Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản (Đợt 7, ngày 01 – 15/5/2020)

​​​​​​​Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản (Đợt 7, ngày 01 – 15/5/2020)

08:28 16/08/2022

Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản đợt 6, ngày 15 – 31/3/2020

Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản đợt 6, ngày 15 – 31/3/2020

08:28 16/08/2022

Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản (Đợt 5, ngày 01 – 15/3/2020)

Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản (Đợt 5, ngày 01 – 15/3/2020)

08:28 16/08/2022

Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản (Đợt 4, ngày 16 – 28/02/2020)

Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản (Đợt 4, ngày 16 – 28/02/2020)

08:28 16/08/2022

Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản (Đợt 3, ngày 01 – 15/02/2020)

Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản (Đợt 3, ngày 01 – 15/02/2020)

08:28 16/08/2022