Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 11 (Từ 01/6/2021 – 15/6/2021)
Ngày đăng: 22/06/2021

      Thời tiết mưa nắng bất thường, nhiệt độ ngày và đêm chênh lệch nhiều, dẫn đến môi trường nước ao nuôi sẽ thay đổi đột ngột, đặc biệt là các thông số thủy lý hóa. Vì vậy, cần phải thường xuyên chú ý việc quản lý nguồn nước ao nuôi, chủ động duy trì kế hoạch quản lý sức khỏe, tăng cường giám sát chặt chẽ hoạt động của thuỷ sản nuôi để chủ động triển khai các biện pháp xử lý khi có tình huống bất thường về môi trường và dịch bệnh.

Cụ thể cảnh báo đối với các tuyến kênh trên địa bàn huyện, thị, thành phố:

- Chỉ tiêu Oxy hòa tan (DO) thấp hơn từ 0.5 – 2 mg/L so với quy chuẩn tham chiếu. Thấp ở các kênh cấp thuộc H.Tháp Mười; H.Cao Lãnh; H.Lai Vung; Sông Tiền – xã An Hiệp (H.Châu Thành). Không biến động so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu H2S cao hơn giới hạn của Quy chuẩn ở ở các kênh cấp như kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng, kênh Tân Thành - Lò Gạch, kênh Trung Ương (H.Tân Hồng); Sông Cái Vừng thuộc xã Phú Thuận A và xã Long Thuận (H.Hồng Ngự), dao động từ 0.052 – 0.062 mg/L. Giảm so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu N-NO2- cao hơn giới hạn của Quy chuẩn ở ở các kênh, sông cấp thuộc H. Tân Hồng; H.Thanh Bình; H.Tam Nông; H.Cao Lãnh; H.Tháp Mười; TP Sa Đéc; H.Châu Thành, dao động từ 0.052 – 0.510 mg/L. Tăng so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu N-NH4 cao hơn giới hạn của Quy chuẩn ở các kênh cấp thuộc H.Tam Nông; H.Tân Hồng; H.Tháp Mười; Kênh K.6, Kênh Hội Đồng Tường (H.Cao Lãnh), dao động từ 0.66 – >1.5 mg/L. Giảm hơn so vớ đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu P-PO43- cao hơn giới hạn của Quy chuẩn ở ở các kênh cấp thuộc H.Tam Nông; H.Tháp Mười; kênh Tân Thành – Lò Gạch, kênh Sa Rài (H.Tân Hồng); kênh Long An (TP Hồng Ngự); kênh Đường Thét, kênh K6, Kênh Hội Đồng Tường (H. Cao Lãnh), dao động từ 0.11 – 1.49 mg/L. Giảm so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu TSS cao hơn giới hạn của Quy chuẩn ở các kênh cấp thuộc H.Tam Nông; H.Tháp Mười; kênh Tân Thành – Lò Gạch (H.Tân Hồng); sông Tiền, rạch Bà Mụ, kênh Đường Thét, kênh Hội Đồng Tường, sông Cần Lố (H.Cao Lãnh), dao động từ 22 – 106 mg/L. Tăng so với đợt quan trắc trước.

- Số lượng vi khuẩn Aeromonas tổng số và Coliform ở hầu hết các điểm quan trắc tại Vùng nuôi cá bè trên địa bàn Tỉnh đều vượt giới hạn quy định

- Hàm lượng Sắt tổng số vượt giới hạn quy định ở kênh An Bình, rạch Bà Mụ (H.Cao Lãnh).

- Không xuất hiện dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật ở tất cả các điểm quan trắc trên địa bàn Tỉnh.

- Độ mặn tại sông Tiền và sông Hậu đạt 0.12 – 0.13 ‰, giảm so với đợt quan trắc trước.

- Độ mặn ở các kênh cấp nội đồng huyện Tam Nông dao động từ dao động 0.12 – 0.31 ‰. Giảm so với đợt quan trắc trước đều nằm trong giới hạn thích hợp của nước ngọt.

Đặc biệt chú ý chất lượng nguồn nước đối với tuyến kênh cấp thuộc H.Tân Hồng (Kênh Tân Thành – Lò Gạch, Kênh Sa Rài); H.Tam Nông (Kênh Thị xã, kênh An Bình, kênh Tân Công Sính 1, kênh Phú Thành 1); H.Tháp Mười (Bảy Thước, kênh Nguyễn Văn Tiếp – xã Mỹ An) đa số các chỉ tiêu kiểm tra đều vượt giá trị giới hạn quy chuẩn, do đó chất lượng nguồn nước chưa được đảm bảo nên khi sử dụng nguồn nước cấp cần phải theo dõi và có biện pháp xử lý nhằm cải thiện chất lượng nước.

* Khuyến cáo

- Phải thường xuyên chú ý việc quản lý nguồn nước ao nuôi, chủ động duy trì kế hoạch quản lý sức khỏe, tăng cường giám sát chặt chẽ hoạt động của thuỷ sản nuôi để chủ động triển khai các biện pháp xử lý khi có tình huống bất thường về môi trường và dịch bệnh do nhiệt độ môi trường giảm thấp và chênh lệch nhiều.

- Cần xử lý nước trước khi cấp vào ao nuôi, định kỳ bổ sung men tiêu hóa, vitamin, khoáng chất...  nhất là vitamin C và Beta glucan vào khẩu phần ăn hàng ngày để tăng sức đề kháng.

   - Đối với vùng nuôi tôm tập trung cần thường xuyên kiểm tra độ kiềm và kết hợp bón vôi hay Dolomite để giữ môi trường nước nuôi ổn định và thuận lợi cho tôm phát triển tốt.

   - Đối với những khu vực nuôi lồng/bè tập trung cần tăng cường thường xuyên kiểm tra, vệ sinh lồng/bè, bố trí lồng/bè có khoảng cách phù hợp để tạo dòng chảy thông thoáng nhằm hạn chế cá chết do thiếu oxy cục bộ. Sử dụng vôi, muối treo đầu bè hoặc khu vực cho ăn để khử trùng và phòng bệnh cho cá. Đồng thời thực hiện tốt QCVN 02-22:2015/BNNPTNT. Chú ý các điểm có sự xuất hiện của vi khuẩn, virus gây bệnh bằng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

- Các vùng nuôi/cơ sở nuôi cá tra thương phẩm xuất khẩu cần thực hiệnQCVN 02-20:2014/BNNPTNT, Quyết định số 07/2019/QĐ-UBND ngày 20/3/2019 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc ban hành quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp./.

 

Tham chiếu:

- QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A1: pH (6-8,5), NO2- (≤ 0,05 mg/L), NH4+(≤ 0,3 mg/L), COD (≤ 10 mg/L), TSS (≤ 20 mg/L), PO43- (≤ 0,1 mg/L). 

- QCVN 02-22:2015/BNNPTNT: Oxy (≥ 4 mg/L).

- QCVN 02-20:2014/BNNPTNT: H2S (≤ 0,05 mg/L)

Chi tiết mời xem Báo cáo số: 1128/BC-CNTYTS

CNTYTS

Tin cùng danh mục

​​​​​​​Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 10

​​​​​​​Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 10

01:10 26/10/2021

Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 9

Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 9

01:10 26/10/2021

​​​​​​​Kết quả chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 8, ngày 16-30/4/2021

​​​​​​​Kết quả chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 8, ngày 16-30/4/2021

01:10 26/10/2021

​​​​​​​Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 7

​​​​​​​Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 7

01:10 26/10/2021

​​​​​​​Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 6

​​​​​​​Kết quả quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi thủy sản Đợt 6

01:10 26/10/2021